Hiển thị các bài đăng có nhãn Hệ thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hệ thống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2008

Sử dụng Administration Tools Pack quản trị các máy tính từ xa

Nếu bạn đã từng sử dụng chức năng Remote Desktop Connection của Windows thì chắc hẳn không lạ gì tác dụng của nó. Lần này Quản Trị Mạng sẽ hướng dẫn bạn cách quản trị từ xa các máy tính sử dụng hệ điều hành Microsoft Windows Server 2003, Microsoft Windows XP hay Microsoft Windows 2000 bằng công cụ Windows Server 2003 Administration Tool Pack (Adminpak).

Ngoài ra, chúng tôi còn thảo luận các vấn đề tương thích khác nhau xuất hiện khi bạn quản trị từ xa các máy tính chạy một trong ba hệ điều hành trên, từ cả phía máy người dùng cũng như máy chủ của bạn.

Các chủ đề được thảo luận trong bài này gồm:
  • Các tuỳ chọn quản trị từ xa máy tính chạy hệ điều hành Windows Server 2002, Windows XP và Windows 2000.
  • Địa chỉ download phiên bản đầu tiên (RTM) và Service Pack 1 cho Windows Server 2003 Administration Tools Pack.
  • Các vấn đề cụ thể khi quản trị dòng Windows 64 bit.
  • Các vấn đề tương thích khi máy tính trên nền Windows 2000 Professional sử dụng công cụ quản trị Windows 2000 và nâng cấp lên Windows XP.
  • Các vấn đề tương thích khi bộ điều khiển tên miền trên nền Windows 2000 được nâng cấp lên bộ điều khiển tên miền trong Windows Server 2003.
  • Các vấn đề đã được biết đến khi bạn dùng công cụ quản trị ở phiên bản đầu tiên (RTM) và Service Pack 1 của Windows Server 2003 Administration Tools Pack để quản lý các máy dùng Windows 2000, Windows XP và Windows Server 2003.
Các tuỳ chọn quản trị từ xa

Kinh nghiệm hay nhất cho thấy là máy tính được dùng để thực hiện các nhiệm vụ quản trị phải chạy cùng một hệ điều hành với máy tính đang được quản trị từ xa.

Phương tiện cài đặt Windows Server 2003 và Windows 2000 gồm các công cụ quản trị đồ hoạ và dòng lệnh, có thể được dùng một cách cục bộ và trong hầu hết các trường hợp quản trị từ xa hệ điều hành mức trên cũng như mức dưới với các thành phần bậc cao.

Để quản trị từ xa các máy đang chạy Windows Server 2003 hay Windows 2000 từ các máy dùng Windows Server 2003, Windows XP hay Windows 2000, dùng một trong các phương thức sau:

  • Cài đặt và dùng các công cụ quản trị đồ hoạ được gói kèm trong Administration Tools Pack để quản trị từ xa máy tính chạy trên nền Windows Server 2003, Windows XP và Windows 2000. Vấn đề thao tác giữa các phần thường xuất hiện trên các hệ điều hành. Chúng thực hiện các nhiệm vụ quản trị trên bàn giao tiếp của máy đích hay trên một máy tính đang chạy cùng một hệ điều hành với máy dùng để quản trị từ xa.
  • Dùng Terminal Services để quản trị từ xa các máy đã cài đặt cục bộ công cụ quản trị dòng lệnh và giao diện đồ hoạ người dùng (GUI). Để tránh giới hạn hai phiên làm việc, bạn có thể dùng mô hình Application Server để tạo chương trình cài đặt trên nền Windows Server 2003 hoặc Windows 2000 đang chạy Terminal Server hay Terminal Services. Vấn đề thao tác giữa các phần xuất hiện trong các hệ điều hành thực hiện nhiệm vụ quản trị từ một server hỗ trợ Terminal Server hoặc Terminal Services và chạy cùng một hệ điều hành như máy từ xa đang được quản trị.
  • Dùng các công cụ dòng lệnh (command-line) và các script để quản trị cục bộ và từ xa các máy chạy Windows Server 2003, Windows XP hay Windows 2000. Các công cụ và các bản script này bao gồm Active Directory Service Interfaces (ADSI), Windows Net.exe commands và các công cụ được gói trong Suptools.msi. Vấn đề thao tác giữa các phần xuất hiện trong các hệ điều hành thực hiện nhiệm vụ quản trị trên một console bàn giao tiếp của máy đích hoặc trên một máy chỉ định thực hiện nhiệm vụ quản trị có cùng hệ điều hành với máy ở xa đang được quản trị. Ví dụ các công cụ hỗ trợ (Support Tools) Windows Server 2003 Service Pack 1 (SP1) có thể được cài đặt lên một máy đang chạy Windows XP Professional. Nhưng chúng không được đảm bảo sẽ hoạt động tốt trong bối cảnh như vậy.

Các công cụ thường hay có vấn đề được biết đến gồm:

• Dfsutil.exe
• Netdiag.exe
• Netcap.exe
• Ntfrsutil.exe

Nếu bạn muốn dùng các công cụ này trên máy Windows Server 2003 SP1, bạn nên chạy chúng từ một máy đã cài sẵn Windows Server 2003 SP1. Bạn có thể dùng thành phần Remote Desktop để kết nối máy sử dụng Windows Server 2003 SP1 đang chạy Support Tools.

Gói công cụ quản trị Windows Server 2003 và Windows 2000 Server

Để công việc quản lý các gói dịch vụ từ xa của bạn dễ dàng hơn, Microsoft hỗ trợ các công cụ quản trị đồ hoạ trong một file tự nén hiện được dùng rất phổ biến là Adminpak.msi (Adminpack).

Chú ý: Trong các phiên bản 64-bit của Windows Server 2003, file này được gọi là Wadminpak.msi.

Administration Tools Pack (Gói công cụ quản trị) trong Windows 2000 được đặt ở thư mục 1386 trên CD họ Windows 2000 Server và cài đặt trên các máy đang chạy Windows 2000. Phần lớn các công cụ trong Windows 2000 Adminpak đều có thể quản trị từ xa Windows 2000 cũng như các phiên bản 32-bit và 64-bit của Windows XP Professional, các phiên bản 32-bit và 64-bit của Windows Server 2003.

Windows Server 2003 Administration Tools Pack cũng được đặt trong thư mục 1386 của đĩa CD cài Microsoft Windows Server 2003 và bạn hoàn toàn có thể download miễn phí trên website của Microsoft www.microsoft.com. Bảng dưới đây tóm tắt các hệ điều hành bạn có thể cài Adminpak từ Windows 2000, phiên bản đầu tiên của Windows Server 2003 (RTM) hoặc Windows Server 2003 Service Pack 1 (SP1). Ngoài ra bảng này còn tóm tắt các hệ điều hành Adminpak có thể quản trị từ xa.

Để download file cài đặt Adminpak, bạn có thể vào website của Microsoft: http://www.microsoft.com/downloads

Tổng quan về cài đặt và tương thích của Administration Tools Pack Windows Server 2003

Nếu bạn muốn quản trị từ xa các máy thành viên cơ sở sử dụng Windows Server 2003 hoặc Windows 2000 và quản lý các bộ điều khiển tên miền trên client dùng Windows Server 20003 hoặc Windows XP Professional, hãy chú ý các vấn đề cài đặt sau:

  • Bạn phải gỡ bỏ các phiên bản thử nghiệm beta trước đó của Windows Server 2003 Administration Tools Pack trước khi cài đặt phiên bản chính thức.
Chú ý: Trong một số trường hợp giới hạn, các server (máy chủ) phải được quản trị từ các client (máy khách) có cùng hệ điều hành. Ví dụ, các hoạt động quản trị từ xa trên máy chủ chạy Windows 2000 chỉ có thể thực thi từ máy khách cũng chạy Windows 2000. Tương tự máy chủ chạy Windows Server 2003 cũng chỉ có thể quản trị từ các máy khách chạy Windows Server 2003, máy chủ cài Windows XP thì máy khách quản trị cũng phải là Windows XP. Tài liệu trong bài này mô tả một số giới hạn và hạn chế ở từng công cụ, trong đó có Administration Tools Pack.
  • Nếu bạn không gỡ Windows Server 2003 RTM Administration Tools Pack (Adminpak.msi) trước khi nâng cấp lên Windows Server 2003 Service Pack 1, việc cài đặt Administration Tools Pack sẽ thất bại. Nếu bạn gỡ Administration Tools Pack bằng chức năng "Add or Remove Programs " trong Control Panel hoặc bằng cách chạy Adminpak.msi, bạn sẽ nhận được các thông báo lỗi sau:
Thông báo lỗi 1

Windows Server 2003 Administration Tools Pack can only be installed on Windows XP Professional with QFE Q329357 applied, on Windows XP Professional Service Pack 1 or later, or on computers running Windows Server 2003 operating systems. (Windows Server 2003 Administration Tools Pack chỉ có thể được cài đặt trên Windows XP Professional với ứng dụng QFE Q32957, trên Windows XP Professional Servie Pack 1 hoặc phiên bản mới hơn và trên các máy sử dụng hệ điều hành Windows Server 2003.)

Thông báo lỗi 2

Setup Failed - Due to an error, Windows Server 2003 Administration Tools Pack Setup Wizard was unable to finish. (Chương trình cài đặt thất bại - Hãy xử lý lỗi, Windows Server 2003 Administration Tools Pack Setup Wizard không thể hoàn tất).

  • Bạn không thể cài đặt file Windows 2000 Adminpak.msi trên các máy dùng Windows Server 2003 hoặc trên các client (máy khách) dùng Windows XP. Các công cụ này không hoạt động trên các hệ điều hành mới hơn và không hỗ trợ chúng. Bạn nên dùng phiên bản Administration Tools Pack của Windows Server 2003 trên các máy Windows XP.
  • Windows Server 2003 Administration Tools Pack không thể được cài đặt hay chạy trên các máy dùng Windows 2000. Nếu bạn vẫn cố gắng thực hiện điều đó, bạn sẽ nhận được thông báo lỗi sau:

Windows Server 2003 Administration Tools Pack can only be installed on Windows XP Professional with hotfix Q329357 applied, or on Windows XP Professional SP1 or later, or on computers that are running Windows Server 2003 operating systems.

Service pack level mismatch. Obtain the Administration Tools Pack that matches the service pack level of your operating system.

(Windows Server 2003 Administration Tools Pack chỉ có thể được cài đặt trên Windows XP Professional có áp dụng gói sửa chữa Q32935 hoặc Windows XP Professional SP1 (có thể là SP2, SP3) hoặc trên các máy đang dùng hệ điều hành Windows Server 2003.

Gói dịch vụ không khớp. Administration Tools Pack cần phải khớp với mức gói dịch vụ (Server Pack) của hệ điều hành).

  • Tương tự, các tiện ích dòng lệnh của Windows Server 2003 Administration Tools Pack được thiết kế chỉ để chạy trên các máy tính dùng Windows XP hoặc Windows Server 2003. Chúng sẽ không hoạt động nếu DLL không khớp hoặc một điểm vào bị lỗi. Điều này sẽ xuất hiện khi bạn copy các tiện ích đó vào máy tính dùng Windows 2000. Nếu bạn cố gắng cài đặt Windows 2000 Administration Tools Pack lên máy dùng Windows Server 2003, bạn sẽ nhận được một thông báo lỗi như sau:
Windows 2000 Administration Tools are incompatible with Windows Server 2003 operating systems. Install Windows Server 2003 Administration Tools Pack. (Windows 2000 Administration Tools Pack không tương thích với các hệ điều hành Windows Server 2003. Hãy cài Windows Server 2003 Administration Tools Pack).
  • Windows XP Professional không có file Windows Server 2003 Adminpak.msi vì các công cụ này là một phần của sản phẩm Windows Server 2003 và chỉ gắn liền với hệ điều hành này.
  • Phiên bản đầu tiên (original-release) của Windows Server 2003 Adminpak.msi chỉ có thể cài đặt trên các máy dùng Windows Server 2003 RTM, Windows XP Professional SP1, hoặc Windows XP Professional SP2.
  • Nếu bạn đang dùng Windows XP Professional SP2 và Windows Server 2003 Administration Tools Pack, bạn không thể quản trị các dịch vụ Cluster. Nhưng nếu bạn dùng Windows XP Professional SP1 và Windows Server 2003 Administration Tools Pack thì lại hoàn toàn có thể.
  • Đa số các công cụ quản trị Windows Server 2003 làm việc giống như các thành phần tương ứng trong Windows 2000, chỉ có một số chức năng được nâng cao hơn. Chẳng hạn như chức năng drag-and-drop (kéo và thả) của Windows Server 2003 Users và Computers snap-in bổ sung đầy đủ hơn nhiều so với các bộ điều khiển tên miền của Windows 2000. Nhưng một số công cụ quản trị Windows Server 2003 không được mở hoặc hỗ trợ khi bạn quản trị các máy dùng Windows 2000.

Chẳng hạn một số công cụ quản trị tuỳ thuộc vào chức năng trong Windows Server 2003 như "Saved query for last logon time" không được hỗ trợ trong Windows 2000 Server vì các phiên bản trước đó của server không đòi hỏi phải có server-side. Trong một số trường hợp hiếm, các công cụ quản trị Windows Server 2003 vẫn có thể không tương thích và không được hỗ trợ để quản lý các máy dùng Windows 2000. Tương tự, một số trường hợp các công cụ quản trị Windows 2000 cũng có thể không tương thích với các máy dùng Windows Server 2003.

Nâng cấp các máy dùng Windows 2000 lên Windows Server 2003 hoặc Windows XP

Khi một máy dùng hệ điều hành Windows 2000, đã cài Windows 2000 Adminpak nâng cấp lên Windows Server 2003 hoặc Windows XP, thành phần System Compatibility Report (Báo cáo về tính tương thích hệ thống) được thể hiện. Thành phần này sẽ nói rằng các công cụ quản trị Windows 2000 không tương thích với Windows Server 2003 hoặc Windows XP. Nếu bạn kích vào Details (xem thông tin chi tiết), bạn sẽ nhận được thông báo lỗi sau:

Setup has detected Windows 2000 Administration Tools on your computer. Windows 2000 Administration Tools are incompatible with Windows Server 2003 operating systems. Use one of the following methods:

  • Cancel this upgrade, remove Windows 2000 Administration Tools, and then restart the upgrade.
  • Complete this upgrade, and then immediately install the Windows Server 2003 Administration Tools Pack by running the Adminpak.msi Windows Installer package file. Adminpak.msi is located in the \i386 folder of your Windows Server 2003 CD.
(Chương trình cài đặt đã tìm thấy thành phần Windows 2000 Administration Tools Pack trên máy tính của bạn. Windows 2000 Administration Tools Pack không tương thích với hệ điều hành Windows Server 2003. Sử dụng một trong các phương thức sau:
  • Huỷ bỏ quá trình nâng cấp hiện tại, gỡ Windows 2000 Administration Tools Pack ra khỏi máy và bắt đầu nâng cấp lại.
  • Hoàn chỉnh quá trình nâng cấp này, sau đó lập tức cài đặt Windows Server 2003 Administration Tools Pack bằng cách chạy gói file Adminpak.msi Windows Installer. Adminpak.msi được đặt tại thư mục \i386 trong đĩa CD cài Windows Server 2003.)
Chú ý: Nếu các thành phần quản trị Windows 2000 được gỡ ra khỏi vị trí đang tồn tại khi máy dùng hệ điều hành Windows 2000 nâng cấp lên Windows Server 2003, đừng cố gắng loại bỏ biểu tượng Windows 2000 Administration Tools xuất hiện trong thành phần Add or Remove Programs trong Control Panel.

Nếu bạn cố gắng gỡ bỏ các công cụ quản trị Windows 2000 bằng cách dùng chức năng Add or Remove Programs, có thể bạn sẽ nhận được thông báo lỗi sau:

apphelp dialog cancelled thus preventing the application from starting. (Hộp thoại trợ giúp ứng dụng đã huỷ bỏ. Do đó các ứng dụng không thể khởi động được).

Bỏ qua thông báo lỗi này. Khi bạn cài Windows Server 2003 Administration Tools Pack, biểu tượng Windows 2000 Administration Tools được thay thế bởi biểu tượng của Windows Server 2003 Administration Tools Pack.

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2008

Từng bước làm chủ Ubuntu

Qua bài viết này, các bạn có thể thấy rằng không có gì khó khăn lắm trong việc sử dụng hệ điều hành miễn phí, mã nguồn mở Ubuntu - một giải pháp thay thế cho Windows khi vấn đề bản quyền và chi phí được đặt ra, nhất là đối với các doanh nghiệp. Mã nguồn mở và miễn phí, dễ dàng cài đặt và sử dụng, giao diện thân thiện và gần gũi, ứng dụng tích hợp phong phú và thao tác đơn giản, đó là những đặc điểm mà người sử dụng đã và đang nhận ra trong quá trình khai thác hệ điều hành ưu việt này.

Bài viết sẽ hướng dẫn bạn đọc làm quen với hệ điều hành Ubuntu, khai thác các ứng dụng sẵn có. Đồng thời, bạn đọc cũng sẽ hiểu rõ và thực thi được các thao tác quản trị hệ thống như cập nhật, cài đặt, cấu hình... nhằm tối ưu hoá Ubuntu để đạt hiệu quả cao trong công việc của mình.

1. Làm quen với Ubuntu

- Thay đổi background: sau khi đăng nhập, bạn có thể thay đổi background của màn hình làm việc bằng cách bấm chuột phải lên desktop, chọn Change Desktop Background. Trong hộp thoại hiện ra, bạn chọn một background phù hợp trong danh sách. Bạn cũng có thể chọn các background khác trên đĩa cứng của mình bằng cách bấm nút Add Wallpaper, trỏ đến vị trí lưu background mong muốn. Cuối cùng, bấm nút Finish để hoàn thành thao tác này.

- Tạo file và thư mục: bạn có thể tạo file hoặc thư mục ngay trên desktop bằng cách bấm chuột phải, chọn Create Folder hoặc Create Document > Empty File. Thao tác này cũng được thực hiện một cách tương tự khi bạn di chuyển vào các thư mục của hệ thống.

- Hiệu chỉnh số lượng workspace: không giống như Windows, bạn có thể làm việc với máy tính Ubuntu trên nhiều màn hình làm việc khác nhau (virtual screen - workspace). Theo mặc định, Ubuntu có sẵn 2 workspace dành cho bạn. Nếu muốn tăng hoặc giảm số lượng, bạn kích chuột phải vào biểu tượng Workspace Switcher ở góc phải bên dưới của màn hình làm việc, chọn Preferences. Tại màn hình Workspace Switcher Preferences, bạn thay đổi số lượng workspace ở mục Number of workspaces. Nếu muốn di chuyển qua lại giữa các workspace, bạn bấm tổ hợp phím Ctrl-Alt-Allow Key.

- Thiết lập screensaver: để thiết lập screensaver nhằm hiển thị các hình ảnh chuyển động khi máy tính ở trong thời gian không sử dụng, bạn vào menu System > Preferences, chọn Screensaver. Trong màn hình Screensaver Preferences, bạn chọn một hình ảnh phù hợp, điều chỉnh thời gian để screen xuất hiện (mặc định là 10 phút). Nếu muốn Ubuntu khóa màn hình khi screensaver có hiệu lực, bạn đánh dấu chọn vào mục Lock screen when screensaver is active. Sau khi đã hoàn thành, bấm nút Close để lưu lại những thay đổi vừa mới thiết lập.

- Làm việc với file và thư mục: Ubuntu cung cấp công cụ Nautilus giúp chúng ta quản lý hệ thống file và thư mục. Với công cụ này, bạn có thể tạo, sửa, xóa và thực hiện mọi thao tác truy cập tài nguyên nội bộ và trong mạng một cách đơn giản. Trên cửa sổ chính của Nautilus, bạn có thể duyệt toàn bộ hệ thống file cục bộ bằng cách bấm vào biểu tượng Computer. Nếu muốn truy cập tài nguyên trong mạng, bạn vào menu Go, chọn Network.

2. Khai thác ứng dụng trên Ubuntu

Tất cả các ứng dụng sẵn có trên Ubuntu và những ứng dụng được cài đặt bổ sung đều được sắp xếp vào các mục trong menu Applications. Cụ thể:

- Accessories: chứa những ứng dụng cơ bản thường dùng trên Ubuntu như Calculator, Terminal (cửa sổ dòng lệnh), Text Editor (tương tự Notepad). Mục này cũng chứa tiện ích chụp màn hình Take Screenshot.

Take Screenshot có 2 cách để chụp màn hình. Với tùy chọn Grab the whole desktop, bạn chụp toàn bộ màn hình; với Grab the current window, bạn có được cửa sổ đang tương tác hiện tại. Sau khi nhấn nút Task Screenshot, bạn nhập tên của ảnh và chọn vị trí để lưu.

- Graphics: chứa những ứng dụng tương tác với ảnh như F-Spot với khả năng tổ chức và chia sẻ hình ảnh, GIMP được xem như trình xử lý ảnh tương tự Photoshop, gThumb với tính năng tổ chức lưu trữ và xem ảnh, XSane được dùng để scan.

- Internet: bao gồm các ứng dụng được dùng để khai thác và trao đổi thông tin trên Internet. Tiêu biểu với trình duyệt Firefox, tiện ích gửi nhận email Evolution và công cụ chat Gaim Internet Messenger.

Bên cạnh đó, Ubuntu còn cài sẵn tiện ích Terminal Server Client cho phép quản trị server từ xa. Nếu muốn sử dụng Ubuntu để quản trị một server chạy hệ điều hành Windows 2003 Server từ xa, bạn vào menu Applications > Internet, chọn Terminal Server Client. Trong cửa sổ hiện ra, bạn nhập tên hoặc địa chỉ IP của máy Windows, username, password và domain mà máy Windows đã kết nối vào. Sau khi nhập xong, bấm nút Connect. Sau một vài giây, màn hình đăng nhập của Windows sẽ xuất hiện, bạn nhập mật khẩu của account đã tạo ra trên Windows để bắt đầu quản trị hệ thống của mình.

Theo mặc định, trình Terminal Server Client sử dụng chế độ hiển thị được thiết lập sẵn khi kết nối đến hệ thống từ xa để quản trị. Chế độ này gây khó khăn cho người quản trị khi thực hiện các thao tác từ xa vì không gian của màn hình bị thu hẹp lại.

Để khắc phục, trên cửa sổ Terminal Server Client, bạn chọn tab Display, thay đổi tùy chọn Use default screen size thành Operate in full screen mode. Với tùy chọn mới này, bạn có thể điều chỉnh kích cỡ của màn hình làm việc từ xa theo ý mình bằng tổ hợp phím Ctrl-Alt-Enter.

- Office: bao gồm những ứng dụng xử lý văn bản (Word Processor), thao tác với bảng tính điện tử (Spreadsheet), tạo trang trình chiếu (Presentation) và tạo lập cơ sở dữ liệu (Database).

- Sound & Video: gồm các tiện ích hỗ trợ giải trí. Bạn có thể tham khảo bài viết Giải trí đa phương tiện trên Ubuntu đăng trên LBVMVT số 231 để biết chi tiết các bước cài đặt và sử dụng các tiện ích này.

3. Quản trị Ubuntu

Các thao tác quản trị hệ thống Ubuntu bao gồm cài đặt, cấu hình và cập nhật các phần mềm; thiết lập các thông số mạng; quản lý máy in; quản trị tài khoản... Những chức năng chính mà bạn thường sử dụng sẽ là:

- Add/Remove: chức năng này được tổ chức trong menu Applications. Bạn sử dụng để cài đặt và loại bỏ các phần mềm trong Ubuntu và trên danh sách sẵn có.

Để cài đặt một phần mềm, chẳng hạn trình gửi nhận email Thunderbird, bạn đánh dấu chọn vào ô ngay trước tên của phần mềm này, tiếp đến bấm nút OK, chọn Apply và nhập mật khẩu quản trị hệ thống. Sau bước này, Ubuntu sẽ download và cài đặt phần mềm lên hệ thống của bạn. Để hoàn thành, bạn bấm nút Close trong hộp thoại Changes applied.

Thao tác loại bỏ cũng được thực hiện một cách tương tự. Bạn bỏ dấu chọn tại ô ngay trước tên phần mềm và thực hiện các bước như đã nêu ở trên.

- Places: menu này bao gồm các chức năng cho phép bạn khai thác tài nguyên trên máy tính Ubuntu như Home Folder, Desktop, Computer, Search for Files... Bạn cũng có thể khai thác tài nguyên trên mạng với chức năng Network.

- Preferences: nằm trong menu System, chức năng này cho phép bạn thực hiện các thay đổi trên hệ thống như thiết lập lại các phím nóng đối với các chức năng trên Ubuntu, đổi cấu hình hoạt động của chuột. Bạn cũng có thể điều chỉnh độ phân giải, tạo lập các session để các ứng dụng có thể khởi động cùng lúc với Ubuntu. Ngoài ra, nếu muốn cho phép các máy tính khác quản trị hệ thống Ubuntu từ xa, bạn chọn Remote Desktop.

Trong màn hình Remote Desktop Preferences, bạn đánh dấu chọn vào ô Allow other users to control your desktop để cấp phép quản trị từ xa. Các máy tính thực hiện thao tác quản trị Ubuntu từ xa bằng cách sử dụng tiện ích VNC Viewer, nhập mật khẩu mà bạn đưa vào ở mục Password.

- Administration: bao gồm các chức năng được dùng để tương tác với hệ thống. Tại menu này, chúng ta có thể cấu hình các thông số mạng (Network), cấu hình máy in (Printing); bật/tắt các dịch vụ hệ thống (Service).

Chức năng System Monitor cho phép bạn theo dõi trạng thái hoạt động của bộ vi xử lý. Tương tự như Task Manager trên Windows, bạn có thể xem và tương tác với các tiến trình đang hoạt động trên hệ thống Ubuntu.

Cũng từ menu này, bạn có thể quản lý file log của hệ thống (System Log); quản lý tài khoản đăng nhập (Users and Groups); cấu hình ngày giờ (Time and Date) và chia sẻ tài nguyên (Shared Sources).

Ngoài ra, còn phải kể đến Synaptic Package Manager. Phần mềm này cho phép bạn quản lý tất cả các gói cài đặt trên Ubuntu. Với các tính năng hoàn toàn tương tự công cụ apt-get (tham khảo ở phần sau), Synaptic cho phép bạn cài đặt, cập nhật và loại bỏ các phần mềm. Đồng thời, Synaptic cũng giúp bạn bổ sung các nguồn cài đặt mới (repositories) vào hệ thống.

4. Một số lệnh thường dùng

Dưới đây là một số lệnh được sử dụng phổ biến trên Ubuntu trong quá trình các bạn tương tác với hệ thống.

# wget <địa-chỉ-download>: lệnh này sẽ download các gói cài đặt về thư mục hiện thời. Đây là tiện ích có thể download file từ các HTTP và FTP server, rất thích hợp với những kết nối chậm hoặc không ổn định. Wget có khả năng resume gói download ngay tại vị trí bị ngắt. Để resume, bạn bổ sung REST với FTP server và Range với HTTP server, với điều kiện các server này có hỗ trợ. Nếu muốn wget chạy ở background, chúng ta bổ sung tuỳ chọn -b. Bạn có thể tham khảo đầy đủ các tuỳ chọn bằng cách gõ lệnh man wget tại cửa sổ Terminal.

# aptitude update: aptitude là công cụ quản lý các gói cài đặt thuộc dòng Debian (.deb) ở cấp độ high-level. Chúng ta có thể sử dụng công cụ này để cập nhật danh sách phần mềm; thực hiện các thao tác cài đặt, cập nhật và loại bỏ các phần mềm trên hệ thống.

Chúng ta thường sử dụng aptitude update trước khi cài đặt để cập nhật danh sách các gói từ apt sources (/etc/apt/source.list). Lệnh này tương đương với apt-get update. Bạn có thể tham khảo đầy đủ các tùy chọn bằng cách gõ lệnh man aptitude tại cửa sổ Terminal.

# apt-get install : apt-get cũng là một tiện ích được dùng để tương tác với tất cả các gói cài đặt trên Ubuntu, đặc biệt là chức năng cài đặt phần mềm với apt-get install. Bạn có thể tham khảo đầy đủ các tuỳ chọn bằng cách gõ lệnh man apt-get tại cửa sổ Terminal.

# dpkg -i & # dpkg -e : dpkg (Debian medium-level Package Manager) là công cụ được sử dụng để quản lý các gói cài đặt có phần mở rộng .deb (gói cài đặt nhị phân của các hệ điều hành Debian Linux). Chúng ta có thể dùng dpkg để cài đặt, loại bỏ, cập nhật các phần mềm trên Ubuntu. Bạn có thể tham khảo đầy đủ các tùy chọn bằng cách gõ lệnh man dpkg tại cửa sổ Terminal.

(Theo KHPT)

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2007

Thiết lập server DHCP trong Windows 2003

Thiết lập server DHCP trong Windows 20031/8/2007 11:05:00 AM

Theo định nghĩa của Microsoft thì "Dynamic Host Configuration Protocol (DHCP) là một chuẩn IP được thiết kế để giảm tính phức tạp cho các cấu hình địa chỉ IP quản trị". Một server DHCP có thể được cài đặt với các thông số thiết lập phù hợp theo mạng cung cấp. Các thông số thiết lập đó là một tập hợp các tham số như gateway, DNS, subnet mask và một loạt địa chỉ IP. Khi đã dùng DHCP trên mạng, quản trị viên không cần phải cấu hình các thiết lập riêng biệt cho từng client. DHCP sẽ tự động phân phối chúng. DHCP server gán cho mỗi client một địa chỉ IP lấy từ phạm vi giới hạn định nghĩa sẵn theo tổng lượng thời gian. Nếu địa chỉ IP được đòi hỏi lớn hơn "thuê bao" đã thiết lập, client sẽ phải yêu cầu gia tăng thêm thời gian mở rộng cho thuê bao trước khi hết hạn. Nếu không địa chỉ IP được coi như tự đo và có thể gán cho client khác. Người dùng muốn thay đổi địa chỉ IP có thể thực hiện bằng cách gõ lệnh "ipconfig /release", sau đó là "ipconfig /renew" trong màn hình lệnh. Lệnh này sẽ gỡ bỏ địa chỉ IP hiện thời và yêu cầu một IP mới. Thiết lập IP dự trữ cũng được định nghĩa trong server DHCP (sẽ được nói ở phần sau), cho phép một số client có địa chỉ IP riêng. Địa chỉ vật lý MAC hoặc host name cũng có thể được dự trữ để các client này có địa chỉ IP cố định được cấu hình tự động. Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) đều gán địa chỉ IP mới cho máy tính client khi có người dùng kết nối Internet. Điều này giúp đơn giản hoá mọi thứ ở mức người dùng.

Sơ đồ trên thể hiện cấu trúc đơn giản của server DHCP với một số máy tính client trong mạng.

Bản thân DHCP Server chứa cơ sở dữ liệu địa chỉ IP (IP Address Database) nắm giữ tất cả địa chỉ có thể phân phối được. Nếu một client (thành viên của mạng, sử dụng hệ điều hành windows 2000 Professional hay windows XP chẳng hạn) được phép dùng "địa chỉ IP tự động" trong các thiết lập TCP/IP, nó có thể nhận địa chỉ IP từ server DHCP. Cài đặt DHCP Server Dưới đây chúng tôi sẽ hướng dẫn từng bước cách cài đặt server DHCP. Cài đặt DHCP server khá dễ dàng trong windows 2003. Sử dụng "Manage your server" Wizard, bạn chỉ cần nhập thông tin chi tiết cần thiết, chương trình sẽ thiết lập các thành phần cơ sở cho bạn. Mở "Manage your server" Wizard, lấy ra danh sách các role server trong tuỳ chọn "List of server roles" của DHCP server và bấm Next. Bạn sẽ được yêu cầu nhập tên, mô tả phạm vi giới hạn (scope). Phạm vi (scope): một scope là tập hợp các địa chỉ IP máy tính trong mạng con dùng DHCP.

Cửa sổ tiếp theo sẽ yêu cầu bạn định nghĩa phạm vi phân phối địa chỉ IP trong mạng và mặt nạ mạng cấp dưới (subnet mask). Nhập các chi tiết thích hợp và kích Next.

Với giao diện dưới, bạn phải bổ sung cho phạm vi địa chỉ IP đã được mô tả ở cửa sổ trước.Ví dụ nếu địa chỉ IP 10.0.0.150 là của router công ty, bạn không muốn DHCP Server cũng phân phối nó. Trong ví dụ, giới hạn các địa chỉ IP là từ 10.0.0.100 tới 10.0.0.110 và một địa chỉ đơn 10.0.0.150. Ở trường hợp này mười một địa chỉ IP sẽ được dự trữ và không phân phối giữa các client mạng.

Bây giờ bạn cần thiết lập giới hạn thời gian "thuê bao" mà một client có thể dùng địa chỉ IP được gán cho. Bạn nên để thời hạn dài cho các mạng cố định (như mạng văn phòng chẳng hạn) và thời hạn ngắn cho các kết nối từ xa hay máy tính xách tay. Trong ví dụ này thiết lập của chúng tôi là 12 giờ cho một máy để bàn cố định ở văn phòng cục bộ và thời gian làm việc thông thường là 8 tiếng.

Tiếp theo bạn được hỏi liệu muốn cấu hình phạm vi các chức năng DHCP luôn bây giờ hay để sau này. Nếu chọn Yes, một màn hình mới với các tuỳ chọn sẽ hiện ra cho bạn sử dụng. Nếu chọn No, bạn có thể cấu hình vào thời gian sau.

Router hay gateway và địa chỉ IP có thể được yêu cầu nhập thông số trong phần tiếp theo. Các máy tính client sau đó sẽ biết router nào được sử dụng.

Trong cửa sổ sau, DNS và các thiết lập tên miền được yêu cầu. DNS server của địa chỉ IP sẽ được phân phối bởi server DHCP và được cung cấp cho client.

Tiếp theo là màn hình WINS setup. Bạn phải nhập địa chỉ IP của WINS server. Chỉ cần nhập tên server vào ô thích hợp và ấn "Resolve", nó sẽ tự tìm địa chỉ IP cho bạn.

Bước cuối cùng là kích hoạt phạm vi. Chỉ cần ấn nút Next khi bạn thấy cửa sổ sau xuất hiện. DHCP server sẽ không hoạt động nếu bạn không làm điều này.

DHCP server đã được cài đặt với các thiết lập cơ bản. Tiếp theo sẽ là cấu hình các điểm cần thiết cho phù hợp với cấu trúc mạng riêng của bạn. Cấu hình DHCP Server Dưới đây là phần giải thích đơn giản về cách cấu hình một server DHCP như thế nào. Phần Address Pool thể hiện danh sách giới hạn địa chỉ IP để phân phối và các điểm loại trừ. Bạn có thể bổ sung thêm điểm loại trừ bằng cách kích phải chuột lên Address Pool ở bên trái cửa sổ MMC và chọn "New exclusion range" (giới hạn loại trừ mới). Một cửa sổ khác (như bên dưới) xuất hiện, cho phép bạn nhập giới hạn địa chỉ bổ sung. Nếu chỉ nhập vào Start IP thì sẽ bổ sung thêm một địa chỉ IP đơn.

DHCP server cho phép bạn dự trữ địa chỉ IP một client. Có nghĩa là một client trong mạng cụ thể có thể giữ nguyên địa chỉ IP đến chừng nào bạn muốn. Để thực hiện điều này bạn cần biết về địa chỉ vật lý (MAC) trên thẻ mạng. Nhập tên dự trữ, địa chỉ IP mong muốn, địa chỉ MAC và phần mô tả, chọn hỗ trợ (hoặc là DHCP, hoặc là BOOTP) và ấn nút Add. Bản dự trữ mới sẽ được bổ sung vào danh sách. Ví dụ tôi có thể dự trữ địa chỉ IP 10.0.0.115 cho máy tính client có tên gọi Andrew.

Nếu kích phải chuột lên Scope Options và ấn "Configure options" (tuỳ chọn cấu hình), sẽ có nhiều server và tham số của chúng được cấu hình hơn trong cửa số tiếp theo. Các thiết lập này được server DHCP phân phối cùng với địa chỉ IP. Tuỳ chọn server hoạt động mặc định trong toàn bộ phạm vi của server DHCP. Tuy nhiên tuỳ chọn phạm vi có thể tham chiếu đến tuỳ chọn server. Server DHCP trong windows 2003 khá thông minh. Nó được nâng cấp từ phiên bản windows 2000 và được phân lớp chủ yếu cho các mạng lớn. Thử tượng tượng bạn phải cấu hình từng client trong toàn bộ mạng, mọi việc sẽ thế nào? Sẽ mất rất nhiều thời gian và phải gỡ rối hơn gấp nhiều lần con số thực nếu chẳng may một lỗi nào đó xuất hiện. Trước khi thực hiện bất kỳ thiết lập nào liên quan đến DHCP, tốt nhất là bạn nên xây dựng cho mình kế hoạch mạng cụ thể và nghĩ về phạm vi giới hạn địa chỉ IP dùng cho máy tính trước.

OSI hoạt động như thế nào

OSI hoạt động như thế nào?

Ngày nay, hầu như tất cả các mạng máy tính đang sử dụng đều dựa theo một vài mô hình của chuẩn OSI (Open Systems Interconnection - hệ thống kết nối mở). OSI được phát triển vào năm 1984 bởi ISO (International Organization for Standardization - Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế), một hiệp hội toàn cầu của các tổ chức tiêu chuẩn quốc gia đại diện cho gần 130 nước.

Trung tâm của chuẩn này là OSI Reference Model (Mô hình tham chiếu OSI), một mô hình 7 layers (mức, lớp) xác định các mức khác nhau mà dữ liệu cần phải đi qua khi truyền từ một thiết bị này sang thiết bị khác qua mạng. Trong ấn bản HowStuffWorks này, bạn sẽ khám phá ra tất cả về chuẩn OSI. Các layer

7 mức này được ví như một assembly line (dây chuyền lắp ráp) trong máy tính. Tại mỗi mức, một vài điều gì đó sẽ xảy ra với dữ liệu để chuẩn bị cho mức cao hơn. 7 mức được phân chia thành hai bộ:
  • Bộ ứng dụng (Application Set):
    • Mức 7: Application - Đây là mức tương tác với hệ điều hành hay ứng dụng bất kỳ khi nào người sử dụng lựa chọn để trao đổi các tệp dữ liệu, đọc thông điệp hay thực hiện các hoạt động khác liên quan đến mạng máy tính.
    • Mức 6: Presentation - Mức 6 tiếp nhận dữ liệu được cung cấp bởi mức Application và biến đổi dữ liệu sang một dạng thức chuẩn mà các mức khác có thể hiểu được.
    • Mức 5: Session - Mức 5 thiết lập, duy trì và huỷ bỏ phiên truyền thông với thiết bị thu nhận.
  • Bộ truyền (Transport Set):
    • Mức 4: Transport - Mức này duy trì flow control dữ liệu và thực hiện kiểm tra lỗi và khôi phục dữ liệu giữa các thiết bị. Flow control có nghĩa là mức Transport xem xét có phải dữ liệu đến từ nhiều ứng dụng và tích hợp dữ liệu của từng ứng dụng vào trong một lớp riêng đối với mạng vật lý.
    • Mức 3: Network – Con đường mà dữ liệu sẽ được gửi đến thiết bị thu nhận được xác định tại mức này. Logical protocols, routing, và addressing được xử lý tại đây.
    • Mức 2: Data - Trong mức này, giao thức vật lý thích hợp được gán vào dữ liệu. Hình thức mạng và cấu trúc của packet cũng được xác định.
    • Mức 1: Physical - Đây là mức của phần cứng . Nó xác định các đặc tính vật lý của mạng như các kết nối, voltage levels và timing.
OSI Reference Model thực sự chỉ là một nguyên tắc. Các cấu trúc giao thức (protocol stacks) hiện nay thường kết nối một hay nhiều mức OSI vào trong một mức đơn. Các cấu trúc giao thức
Cấu trúc giao thức là một nhóm các giao thức cùng hoạt động cho phép phần cứng hay phần mềm thực hiện một chức năng. Cấu trúc giao thức TCP/IP là một ví dụ. Nó sử dụng 4 mức chia theo mô hình OSI như sau:
  • Mức 1: Network Interface – Mức này kết nối mức Physical và Data và gửi truyền dữ liệu giữa các thiết bị trên cùng một mạng. Nó còn quản lý các trao đổi dữ liệu giữa mạng và các thiết bị khác.
  • Mức 2: Internet - Mức này tương ứng với mức Network. Giao thức Internet (IP) sử dụng địa chỉ IP, bao gồm một Network Identifier và một Host Identifier, để xác định địa chỉ của thiết bị mà nó tiếp xúc.
  • Mức 3: Transport – Tương ứng với mức Transport của mô hình OSI, nó là một phần của cấu trúc giao thức nơi mà TCP (Transport Control Protocol) có thể được tìm thấy. TCP hoạt động theo yêu cầu của thiết bị khác trên mạng nếu nó muốn nhận thông tin từ thiết bị cục bộ.
  • Mức 4: Application - Mức 4 kết nối các mức Session, Presentation, và Application của mô hình OSI. Các giao thức với các chức năng riêng như e-mail (Simple Mail Transfer Protocol, SMTP) và trao đổi dữ liệu (File Transfer Protocol, FTP) đều có ở mức này.
Bạn có thể thấy, việc phát triển từng mức riêng biệt đối với từng chức năng được phân cấp như trong OSI Reference Model là không cần thiết. Tuy nhiên, các chuyên viên có thể chắc chắn rằng một mức tương thích nhất định đều được duy trì thông qua việc tuân theo các nguyên tắc chung được cung cấp bởi mô hình này.